SELECT MENU

116

Nhận định KQKD (ACB: Mua vào) NHTMCP Á Châu đã công bố LNTT Q1 tăng 14,6% so với cùng kỳ, hoàn thành 23,1% kế hoạch cả năm. Cả cho vay và tiền gửi khách hàng tăng khiêm tốn, lần lượt tăng 2,96% và 1,88% so với đầu năm; thấp hơn 1 chút so với mức tăng của một số ngân hàng niêm yết khác. Tỷ lệ NIM không được cải thiện (3,65%) trong khi thu nhập ngoài lãi giảm 31,9% so với cùng kỳ do không có nhiều thu nhập từ thu hồi nợ xấu. Tuy nhiên, chi phí hoạt động được kiểm soát tốt (tăng 7,1% so với cùng kỳ) và chi chi phí dự phòng được hoàn nhập là hai yếu tố giúp giúp LNTT tăng trưởng.

Ngân hàng Thương mại Cổ phần Á Châu (ACB)
Kết luận nhanh – Tiếp tục duy trì đánh giá Mua vào với giá trị hợp lý là 45.000đ (tương đương P/B dự phóng là 2 lần) dựa trên phương pháp thu nhập thặng dư. ACB vẫn là NHTMCP tốt nhất, bám rất sát chiến lược kinh doanh cân bằng rủi ro và lợi nhuận. ACB đã kiểm soát tốt toàn bộ các chỉ số an toàn tài chính, từ đó giúp Ngân hàng đảm bảo duy trì được mức ROE ổn định ở 22% trong vài năm tới. Tuy nhiên hiện room cho NĐT nước ngoài đã đầy từ lâu (tỷ lệ sở hữu của NĐTNN đã đạt giới hạn tối đa là 30%), tập trung ở những NĐT lớn. Do vậy cơ hội tìm được lô cổ phiếu để mua giao dịch thỏa thuận là khá hiếm hoi. Ngay cả khi Ngân hàng bán cổ phiếu quỹ, thì room dành cho NĐTNN vẫn không xuất hiẹn.

Tăng trưởng cho vay và tiền gửi khách hàng: cho vay khách hàng tăng khiêm tốn (lần lượt tăng 2,96% và 1,88% so với đầu năm)

Cho vay khách hàng tăng 2,96% so với đầu năm đạt 237,35 nghìn tỷ đồng. ACB được NHNN giao hạn mức tăng trưởng tín dụng tạm thời là 13% cho năm nay. Theo kỳ hạn, cho vay ngắn hạn giảm 4,7% so với đầu năm còn 127,12 nghìn tỷ đồng, chiếm 53,6% tổng dư nợ (cuối năm 2018 là 57,9%). Trong khi đó, cho vay trung dài hạn tăng mạnh 13,5% so với đầu năm đạt 110,23 nghìn tỷ đồng, chiếm 46,4% tổng dư nợ (cuối năm 2018 là 42,1%).

Theo loại tiền, cho vay tiền đồng tăng 3,1% so với đầu năm đạt 230,07 ng- hìn tỷ đồng; cho vay USD giảm nhẹ 1,19% so với đầu năm còn 7,28 nghìn tỷ đồng. Tỷ trọng cho vay USD trong tổng dư nợ giảm dần từ 13,3% tại thời điểm cuối năm 2013 xuống chỉ còn 3,07% tại thời điểm cuối Q1/2019.

Trên BCTC Q1 không có thông tin về cơ cấu cho vay theo khách hàng và ngành nghề. Tuy nhiên theo BCTC kiểm toán năm 2018, cho vay khách hàng cá nhân tăng 19,7% so với đầu năm, đóng góp 57,7% tổng dư nợ. Với cho vay trung dài hạn tăng mạnh trong Q1/2019; chúng tôi giả định cho vay khách hàng cá nhân vẫn là động lực tăng trưởng chính.

Tiền gửi khách hàng tăng nhẹ 1,88% so với đầu năm đạt 275,07 nghìn tỷ đồng. Theo kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn tăng 2,58% so với đầu năm đạt 228,57 nghìn tỷ đồng, chiếm 83,1% tổng tiền gửi (cuối năm 2018 là 82,5%). Tiền gửi không kỳ hạn tăng giảm 1,43% so với đầu năm còn 46,49 nghìn tỷ đồng, chiếm 16,9% tổng tiền gửi (cuối năm 2018 là 17,5%).

Theo đó, hệ số LDR thuần tiếp tục tăng lên 86,3% từ 85,4% tại thời điểm cuối năm 2018.

Lợi suất: Tỷ lệ NIM giữ nguyên so với quý liền trước, là 3,65%

Tỷ lệ NIM tăng 0,19% so với cùng kỳ lên 3,65% nhưng không tăng so với quý liền trước.

Về mặt tài sản, lợi suất gộp bình quân tăng 0,18% so với cùng kỳ nhưng giảm 0,02% so với đầu năm xuống còn 8,43%. Lợi suất gộp cho vay khách hàng tăng 0,24% so với cùng kỳ lên 9,34% (giữ nguyên so với quý liền trước). Lợi suất gộp cho vay liên ngân hàng giảm 0,1% so với cùng kỳ xuống còn 3,72% nhưng tăng 0,57% so với quý liền trước. Lợi suất gộp đầu tư trái phiếu tăng mạnh 0,49% so với cùng kỳ và 0,51% so với quý liền trước lên 6,2%.

Chúng tôi thấy trong khi hầu hết các ngân hàng có lợi suất gộp tăng khá mạnh trong Q1 với nợ xấu tăng, thì lợi suất gộp của ACB giữ nguyên còn nợ xấu giảm. Theo chúng tôi, điều này có thể được lý giải dựa trên những giả định sau.

ACB có khẩu vị rủi ro thận trọng hơn so với nhiều ngân hàng khác, đặc biệt là trong lĩnh vực cho vay mua nhà. Theo đó, Ngân hàng có thể đã không nâng lãi suất cho vay để thúc đẩy thu nhập lãi trong ngắn hạn, thay vào đó họ duy trì nguồn khách hàng tốt và cố gắng tránh các khoản nợ xấu tiềm tàng trong tương lai.

ACB không tập trung vào cho vay mua nhà ở một số dự án BĐS của một vài chủ đầu tư hoặc áp dụng các chính sách ưu đãi lãi suất lớn dành cho một lượng lớn khách hàng. Theo đó, lợi suất gộp cho vay mua nhà không tăng đáng kể sau giai đoạn giảm/miễn lãi giống như ở một số ngân hàng khác.

Với lợi suất gộp ổn định, ACB cũng đã kiểm soát chi phí huy động bình quân với chi phí này giữ nguyên ở 4,84% (tăng 0,08% so với cùng kỳ và tăng 0,01% so với quý liền trước). Trong đó, tiền gửi khách hàng (chiếm gần 90% nguồn vốn huy động) đóng vai trò giữ cho chi phí huy động không tăng (chi phí huy động tiền gửi khách hàng tăng 0,03% so với cùng kỳ và thậm chí còn giảm 0,02% so với quý liền trước xuống còn 4,77%).

Kết quả hoạt động kinh doanh: Thu nhập ngoài lãi giảm do thu nhập từ thu hồi nợ xấu giảm

Thu nhập lãi thuần tăng 20,4% so với cùng kỳ đạt 2.856 tỷ đồng nhờ tỷ lệ NIM tăng 0,19% so với cùng kỳ và tổng tài sản sinh lãi tăng 13,2% so với cùng kỳ.

Trong khi đó thu nhập ngoài lãi giảm đáng kể, giảm 31,9% so với cùng kỳ xuống còn 633,62 tỷ đồng, chủ yếu do thu nhập khác giảm. Cụ thể, sau 5 năm tái cơ cấu từ 2012 đến 2017, bằng việc trích lập dự phòng toàn bộ cho hầu hết các tài sản tồn dư có vấn đề, ACB đã bắt đầu hạch toán đáng kể thu nhập từ thu hồi các khoản nợ xấu đã được xóa nói trên. Cụ thể:

Lãi thuần HĐ dịch vụ tăng nhẹ 5,2% so với cùng kỳ đạt 371,44 tỷ đồng.

Lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối gần như giữ nguyên ở 80,55 tỷ đồng (tăng 2,7% so với cùng kỳ).

Thu nhập từ kinh doanh và đầu tư chứng khoán giảm 68,88% so với cùng kỳ xuống còn 44,56 tỷ đồng.

Thu nhập khác cũng giảm 61,9% so với cùng kỳ xuống còn 133,73 tỷ đồng; trong đó thu nhập từ thu hồi nợ xấu là 124,9 tỷ đồng (giảm 37,8% so với cùng kỳ).

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 3.490 tỷ đồng (tăng 5,65% so với cùng kỳ).
Chi phí hoạt động tăng 7,1% so với cùng kỳ lên 1.798 tỷ đồng, trong đó chi phí nhân viên được kiểm soát khá tốt, chỉ tăng 6,5% so với cùng kỳ trong khi tổng số lượng nhân viên tăng 7,6% so với cùng kỳ. Theo đó, lượng bình quân/ người/tháng giảm nhẹ từ 25 triệu đồng xuống 24,7 triệu đồng so với cùng kỳ.

Nợ xấu & trích lập dự phòng: Nợ xấu được kiểm soát tốt và Ngân hàng đã hoàn nhập được dự phòng

Trong Q1/2019, Ngân hàng còn hoàn nhập được 15,66 tỷ đồng dự phòng nhờ chất lượng tài sản tốt và Ngân hàng thu hồi nợ xấu thành công. Cụ thể, chi phí dự phòng chung là 64,57 tỷ đồng (giảm 50% so với cùng kỳ) nhưng Ngân hàng đã hoàn nhập được 42,37 tỷ đồng dự phòng cụ thể trong Q1.

Nợ xấu được kiểm soát tốt với tỷ lệ nợ xấu giảm từ 0,73% tại thời điểm cuối năm 2018 xuống 0,69% (nợ xấu giảm 51,71 tỷ đồng). Tuy nhiên nợ nhóm 2 tăng nhẹ 308,33 tỷ đồng lên bằng 0,29% tổng dư nợ.

Hệ số LLR tăng lên mức cao kỷ lục là 158% nhưng mức đệm dự phòng cụ thể giảm từ 61,4% tại thời điểm cuối năm 2018 xuống 55,9%.

Hệ số CAR: ACB đang chờ phê duyệt của NHNN về hệ số CAR tính theo Basel 2 còn theo Basel 1 là 12%

ACB đã trình NHNN xem xét chứng nhận hệ số CAR tính theo Basel 2. Trong Q1/2019, hệ số CAR theo Basel 1 là 12% (tại thời điểm cuối năm 2018 là 12,8%). Trong đó hệ số CAR của vốn cấp 1 là 9,9% (tại thời điểm cuối năm 2018 là 10,6%).

Triển vọng lợi nhuận năm 2019: HSC dự báo LNTT tăng trưởng 15,8% đạt 7.395 tỷ đồng

Cho năm 2019, HSC duy trì dự báo cập nhật mới nhất với LNTT tăng trưởng 15,8% (đạt 7.395 tỷ đồng). Các giả định chính của chúng tôi gồm:

Chúng tôi giữ nguyên dự báo cho vay khách hàng tăng trưởng 14% đạt 262 nghìn tỷ đồng và huy động khách hàng tăng trưởng 14% đạt 307 nghìn tỷ đồng.

Chúng tôi giữ nguyên dự báo tỷ lệ NIM tăng 0,1% lên 3,76%.

Theo đó, thu nhập lãi thuần tăng trưởng 16,9% đạt 12.122 tỷ đồng.

Chúng tôi giữ nguyên dự báo thu nhập ngoài lãi đạt 3.508 tỷ đồng (giảm 4,4%), chủ yếu do thu nhập từ thu hồi nợ sẽ giảm 35% dựa trên mức độ xử lý nợ xấu giảm dần trong hai năm qua.

Chúng tôi dự báo chi phí hoạt động tăng 12% lên 7.520 tỷ đồng.

Chúng tôi cũng dự báo chi phí dự phòng giảm nhẹ xuống 715 tỷ đồng (giảm 23,2% so với năm 2018) với nợ xấu sau xử lý tương đương 1% tổng dư nợ.

Theo đó LNTT dự báo đạt 7.395 tỷ đồng (tăng trưởng 15,8%).

Chúng tôi cũng dự báo ACB có thể sẽ bán số cổ phiếu quỹ còn lại (35,18 triệu cổ phiếu) để cải thiện hệ số CAR trước năm 2020.

Do đó, chúng tôi dự báo EPS 2019 là 4.432đ, BVPS là 22.106đ, ROAA là 1,68% và ROAE là 23,9%.

Định giá: Duy trì đánh giá Mua vào với giá trị hợp lý là 45.000đ (P/B dự phóng là 2 lần)

Chúng tôi sử dụng phương pháp thu nhập thặng dư là phương pháp định giá chính. Các đầu vào chính của chúng tôi được trình bày như trong bảng dưới đây.

ACB vẫn là một trong những NHTMCP tốt nhất Việt Nam, có khả năng đem lại lợi nhuận bền vững trong vài năm tới mà không gặp nguy cơ gia tăng nợ xấu hay rủi ro tập trung về tệp khách hàng và/hoặc lĩnh vực/ngành nghề cho vay. ACB không có một chiến lược kinh doanh bắt mắt chẳng hạn như cho vay tiêu dùng không có tài sản đảm bảo hay chiến lược đẩy mạnh cho vay mua nhà nhưng đây có lẽ lại là điểm có lợi chứ không có hại cho Ngân hàng. Thoạt nhìn ACB có vẻ có hoạt động kinh doanh khá truyền thống với các hệ số an toàn tài chính được kiểm soát tốt và chính mô hình kinh doanh thuần gọn này có lẽ sẽ tạo ra đủ dư địa, giúp Ngân hàng có thể đối phó được với sự đi xuống của toàn ngành.

Tuy nhiên cần lưu ý là không giống như các khoản cho vay tiêu dùng và cho vay mua nhà có thể đem lại cả lợi nhuận lẫn các khoản lỗ do tỷ lệ nợ xấu tiềm ẩn rất cao, ngân hàng số và các ngành kinh doanh phi rủi ro khác chẳng hạn như bancassurance, tư vấn quản lý tài sản, tư vấn trái phiếu doanh nghiệp… có thể sẽ thay đổi đánh kể diện mạo của ngành ngân hàng Việt Nam trong 5 năm tới. Tuy nhiên so với các NHTM niêm yết khác, chúng tôi chưa thấy một thông điệp mạnh mẽ từ lãnh đạo của ACB về chiến lược cho những mảng kinh doanh nói trên.

Nguồn: HSC.

Nhà đầu tư muốn mở tài khoản chứng khoán và muốn được tham khảo những mã cổ phiếu tăng giá tốt nhất thị trường hiện tại như danh mục đầu tư của Nhật Cường vui lòng liên hệ với mình để được tư vấn chi tiết hơn.

BÌNH LUẬN()

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

0912 842 224