SELECT MENU

Đánh giá Cổ phiếu VCB (Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam) – Kết Qủa Kinh Doanh Qúy 1 rất khả quan

VCB công bố KQKD Q1 rất khả quan (LNTT tăng 34,8% so với cùng kỳ).

  • Cho vay khách hàng tăng trưởng mạnh 6,5% tính đến thời điểm hiện tại so với hạn mức tăng trưởng tín dụng của NHNN và 15% so với cùng kỳ.
  • Tỷ lệ NIM cải thiện 0,68% so với cùng kỳ đạt mức 3,34% cao nhất kể từ năm 2012.
  • Tuy nhiên, thu nhập ngoài lãi giảm 12,3% so với cùng kỳ do không còn khoản thu nhập từ thoái vốn như trong Q1/2018.
  • Tỷ lệ LLR & mức đệm dự phòng được nâng lên mức cao kỷ lục mặc dù nợ xấu chỉ tăng nhẹ.
  • Hệ số CAR là 9,86% tính theo Basel 2.
  • HSC dự báo LNTT tăng trưởng 14,8% trong năm nay.
  • Nắm giữ với giá trị hợp lý là 65.000 đồng (P/B dự phóng là 3,07 lần và P/E dự phóng là 16,87 lần).
Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB)

Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (VCB)

Nhận định KQKD: VCB công bố KQKD Q1 với LNTT rất khả quan (tăng 34,8% so với cùng kỳ và hoàn thành 29,4% kế hoạch kinh doanh ĐHCĐTN đã thông qua), nhờ cho vay khách hàng tăng trưởng mạnh mẽ (tăng 6,5% so với đầu năm) và tỷ lệ NIM cải thiện (tăng 0,68% so với cùng kỳ). Thu nhập ngoài lãi giảm 12,3% so với cùng kỳ do không còn khoản thu nhập từ thoái vốn. Tuy nhiên, chi phí hoạt động và chi phí dự phòng đều được kiểm soát rất tốt (tăng lần lượt 7,7% và 1,03% so với cùng kỳ).

Kết luận nhanh: Nắm giữ với giá trị hợp lý của cổ phiếu là 65.000 đồng/ cổ phiếu. Giá cổ phiếu đã tăng 24,2% so với đầu năm và đã đạt giá mục tiêu của chúng tôi. Chúng tôi cho rằng VCB có thể giữ vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực ngân hàng về thị phần, chất lượng tài sản và hiệu quả hoạt động. Bên cạnh đó, Ngân hàng có năng lực kiến tạo ra lợi nhuận ổn định bền vững nhờ mảng khách hàng bán lẻ vững mạnh, doanh thu phí dịch vụ cao và sự năng động trên thị trường vốn. Tất cả các yếu tố đó có thể giúp duy trì mức ROE bền vững đạt 20% trong dài hạn. Tuy nhiên, tất cả những động lực này được phản ánh đầy đủ trong định giá của chúng tôi dựa trên phương pháp thu nhập thặng dư.

  • Các khoản vay ngắn hạn tăng trưởng 8,0% so với đầu năm, đạt 369,60 nghìn tỷ đồng (chiếm 54,9% tổng dư nợ so với mức 54,2% tại thời điểm cuối năm 2018).
  • Các khoản vay trung và dài hạn tăng trưởng 4,8% so với đầu năm đạt 303,41 nghìn tỷ đồng.
  • Cho vay khách hàng bằng VNĐ tăng 5,9% so với đầu năm đạt 578,32 nghìn tỷ đồng (chiếm 86% tổng dư nợ).
  • Cho vay khách hàng bằng USD và các ngoại tệ khác tăng 10,7% so với đầu năm đạt 94,70 nghìn tỷ đồng (chiếm 14% tổng dư nợ).

VCB là ngân hàng có tỷ trọng cho vay bằng ngoại tệ cao nhất do nền tảng khách hàng xuất nhập khẩu mạnh. Mặc dù không đủ thông tin cơ cấu theo loại khách hàng và ngành trong báo cáo Q1, chúng tôi lưu ý rằng cho vay bán lẻ vẫn là mảng tăng trưởng mạnh nhất trong vài năm qua (tăng 32,7% trong năm 2018, chiếm 37,3% tổng dư nợ tính đến cuối năm 2018, từ mức chỉ 20,0% vào cuối năm 2015). Trong khi đó, tỷ trọng các khoản cho vay doanh nghiệp Nhà nước giảm từ 23,3% xuống chỉ còn 10,8% so với cùng kỳ.

VCB nắm giữ 52,52 nghìn tỷ đồng trái phiếu TCTD và trái phiếu doanh nghiệp (tăng 20% so với đầu năm). Tuy nhiên, trái phiếu TCTD chiếm 45,35 nghìn tỷ đồng trong khi trái phiếu doanh nghiệp chỉ chiếm 7,2 nghìn tỷ đồng.

Tiền gửi của khách hàng tăng trưởng 4,53% so với đầu năm đạt 838,27 nghìn tỷ đồng, trong khi giấy tờ có giá trị giảm nhẹ 0,52% so với đầu năm xuống còn 21,34 nghìn tỷ đồng. Do đó, hệ số LDR thuần tăng lên mức 80,3% so với mức 78,8% vào cuối năm 2018.

Với cơ cấu theo kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn tăng trưởng 5,4% so với đầu năm đạt 588,84 nghìn tỷ đồng trong khi tiền gửi không kỳ hạn tăng trưởng 3,4% so với đầu năm đạt 234,50 nghìn tỷ đồng. Do đó, VCB tiếp tục giữ vị thế dẫn đầu trong lĩnh vực ngân hàng về tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn (chiếm 28% tổng tiền gửi của khách hàng tại thời điểm Q1/2019). Ngoài ra, VCB cũng là ngân hàng có tỷ trọng tiền gửi ngoại tệ cao nhất (chiếm 18,2% tổng tiền gửi khách hàng tại thời điểm Q1/2019). Đây là một lợi thế cạnh tranh rất quan trọng của VCB, cho phép Ngân hàng tạo thu nhập dịch vụ và thu nhập ngoại hối bền vững và đáng kể.

Tỷ lệ NIM tăng ấn tượng, tăng 0,68% so với cùng kỳ và tăng 0,37% so với đầu năm lên 3,34%. Đây cũng là tỷ lệ NIM cao nhất kể từ 2012. Tỷ lệ NIM cải thiện chủ yếu nhờ lợi suất gộp bình quân tăng (tăng 0,86% so với cùng kỳ) mạnh hơn mức tăng của chi phí huy động bình quân (tăng 0,32%).

Về mặt tài sản, lợi suất gộp bình quân tăng 0,86% so với cùng kỳ và tăng 0,48% so với quý liền trước lên 6,32% với lợi suất gộp của toàn bộ các tài sản sinh lãi tăng mạnh nhờ:

  • Cho vay khách hàng cá nhân tiếp tục tăng trưởng mạnh (trong đó cho vay mua nhà đóng góp đáng kể). Ngoài ra, tỷ trọng cho vay khách hàng trong tổng tài sản sinh lãi cũng đã tăng từ 61% tại thời điểm cuối năm 2018 lên 67,1% tại thời điểm cuối Q1/2019. Thông thường, VCB duy trì tỷ trọng cho vay khách hàng khoảng 65-66% trong năm, và chỉ tạm thời giảm tỷ lệ này xuống vào thời điểm cuối năm do hạn chế về hạn mức tăng trưởng tín dụng.
  • Lãi suất cho vay trên thị trường liên ngân hàng tăng cũng có lợi cho VCB vì Ngân hàng luôn là đơn vị cho vay ròng với số dư cho vay vào khoảng 12-15% tổng tài sản sinh lãi. Theo đó, lãi suất trên thị trường liên ngân hàng càng cao thì lợi nhuận của VCB càng lớn.
  • Lợi suất trái phiếu của các TCTD tăng. VCB đã nâng giá trị đầu tư vào trái phiếu của các TCTD từ 22,6 nghìn tỷ đồng lên 31,33 nghìn tỷ đồng trong quý này. Điều này trên thực tế đã giúp lợi suất chung của danh mục trái phiếu của Ngân hàng tăng từ 4,81% lên 5,11%.

Sau khi tiếp tục tăng mạnh trong Q1, chúng tôi kỳ vọng lợi suất gộp sẽ vẫn tăng ở mức khá trong một khoảng thời gian nữa.

Về mặt nguồn huy động, chi phí huy động bình quân cũng tăng 0,32% so với cùng kỳ và tăng 0,16% so với quý liền trước lên 3,09%; chủ yếu do chi phí huy động tiền gửi khách hàng tăng 0,09% so với cùng kỳ và tăng 0,07% so với quý liền trước lên 3,24%. Tỷ trọng tiền gửi khách hàng trong tổng vốn huy động cũng tăng trở lại lên 85,7% từ 80,9% tại thời điểm cuối năm 2018.

Thu nhập ngoài lãi giảm nhẹ do không còn thu nhập từ bán cổ phần đầu tư

Thu nhập lãi thuần tăng khá tích cực, tăng 37,1% so với cùng kỳ lên 8.498 tỷ đồng nhờ tỷ lệ NIM tăng 0,68% so với cùng kỳ và tổng tài sản sinh lãi tăng 5,39%.

Trong khi đó, thu nhập ngoài lãi giảm 12,3% so với cùng kỳ xuống còn 3.268 tỷ đồng; chủ yếu do không còn lãi từ thoái vốn khoản đầu tư như trong Q1/2018. Chúng tôi thấy trong Q1/2018 VCB đã bán 7,6 triệu cổ phiếu HVN với giá bình quân là 55.000đ/cp (giá vốn đầu tư là 22.300đ/cp), theo đó ghi nhận 248,43 tỷ đồng lợi nhuận. Trong khi đó, lãi thuần HĐ kinh doanh ngoại hối tăng mạnh, tăng 51% so với cùng đạt 928 tỷ đồng. Như đề cập trên đây, VCB có lượng khách hàng lớn là các doanh nghiệp xuất nhập khẩu, giúp thu nhập của mảng dịch vụ và kinh doanh ngoại hối đạt khá.

Theo đó, tổng thu nhập hoạt động đạt 11.767 tỷ đồng (tăng 18,6% so với cùng kỳ).

Chi phí hoạt động tăng nhẹ 7,7% so với cùng kỳ lên 4.383 tỷ đồng, trong đó chi phí nhân viên chỉ tăng 4% so với cùng kỳ lên 2.129 tỷ đồng (chiếm 48,6% tổng chi phí hoạt động). Tổng số lượng nhân viên tăng 6,1% so với cùng kỳ lên 17.303 người. Theo đó lương bình quân/người/tháng là 41 triệu đồng (Q1 năm ngoái là 41,9 triệu đồng). VCB là một trong những ngân hàng có chi phí lương bình quân/nhân viên/tháng cao nhất trong ngành ngân hàng nhưng doanh thu/nhân viên/tháng của VCB cũng thuộc nhóm cao nhất trong ngành.

Tỷ lệ LLR & mức đệm dự phòng được nâng lên mức cao kỷ lục mặc dù nợ xấu chỉ tăng nhẹ

Tỷ lệ nợ xấu tăng nhẹ lên 1,03% từ 0,98% tại thời điểm cuối năm 2018 (nợ xấu tăng 729 tỷ đồng). Nợ nhóm 3 tăng đáng kể, tăng 689,83 tỷ đồng.

Chi phí dự phòng gần như giữ nguyên ở 1.505 tỷ đồng (tăng 0,56% so với cùng kỳ). Theo đó, hệ số LLR ở mức cao kỷ lục là 169% so với mức 165% tại thời điểm cuối năm 2018. Ngoài ra, mức đệm dự phòng cụ thể cũng tăng lên 114% từ 100% tại thời điểm cuối năm 2018. Cho đến nay VCB có vẻ là ngân hàng duy trì mức đệm dự phòng cao nhất.

Hệ số CAR của VCB tính theo Basel 2 từ ngày 1/1/2019. Tại thời điểm cuối Q1/2019, hệ số CAR là 9,86% (tại thời điểm cuối năm 2018, hệ số CAR tính theo Basel 1 là 10,54%).

VCB đã hoàn tất đợt phát hành riêng lẻ cho Mizuho và GIC đầu năm nay; tăng vốn thêm tương đương với 3,1% vốn điều lệ. Giá phát hành là 55.000đ/cp (tương đương P/B hiện tại là 3,2 lần và P/B dự phóng là 2,6 lần).

Điều này đã giúp VCB nâng cao hệ số CAR nhưng kết quả thực hiện thấp hơn nhiều kế hoạch ban đầu là phát hành 10% số lượng cổ phiếu lưu hành. Theo đó, chúng tôi kỳ vọng VCB có thể sẽ sớm tiếp tục tăng vốn nếu điều kiện thị trường thuận lợi.

Chúng tôi duy trì dự báo LNTT tăng trưởng 14,8% đạt 20.972 tỷ đồng nhưng điều chỉnh giảm dự báo tăng trưởng tín dụng và huy động từ lần lượt 17% và 15% xuống còn 15% và 12%. Dự báo của chúng tôi dựa trên những giả định chính sau.

(1)        Chúng tôi dự báo cho vay khách hàng sẽ tăng trưởng 15% đạt 726,64 nghìn tỷ đồng còn tiền gửi khách hàng tăng trưởng 12% đạt 898,16 nghìn tỷ đồng.

(2)        Theo đó, hệ số LDR thuần là 81% (năm 2018 là 79%).

(3)        Chúng tôi dự báo tỷ lệ NIM sẽ tăng 0,14% từ 2,9% lên 3,04%. Tăng trưởng cho vay khách hàng chậm lại trong 3 quý còn lại của năm cộng với lãi suất huy động tăng sẽ đẩy tỷ lệ NIM cả năm giảm xuống.

(4)        Theo đó thu nhập lãi thuần tăng trưởng 16,7% đạt 33,16 nghìn tỷ đồng.

(5)        Chúng tôi dự báo thu nhập ngoài lãi giữ nguyên ở 10,77 nghìn tỷ đồng (giảm 0,85%).

(6)        Theo đó, chúng tôi dự báo tổng thu nhập hoạt động sẽ đạt 43,93 nghìn tỷ đồng (tăng trưởng 11,85%).

(7)        HSC dự báo chi phí hoạt động sẽ tăng 19,1% lên 16,22 nghìn tỷ đồng.

(8)        Tuy nhiên, chúng tôi kỳ vọng chi phí dự phòng sẽ giảm 8,8% xuống còn 6.744 tỷ đồng do Ngân hàng sẽ không còn phải trích lập dự phòng cho vay liên ngân hàng như trong năm 2018 (trích lập 1.000 tỷ đồng cho vay liên ngân hàng với VNCB).

(9)        Theo đó, LNTT đạt 20.972 tỷ đồng (tăng trưởng 14,8%).

Chúng tôi đã điều chỉnh tăng giá trị hợp lý của cổ phiếu VCB lên 65.000 đồng dựa trên phương pháp thu nhập thặng dư, tương đương P/B hiện tại (sau khi phát hành tăng vốn cho Mizuho và GIC) là 3,1 lần.

So với các ngân hàng niêm yết, VCB luôn có định giá cao hơn. Điều này là do VCB liên tục đạt KQKD tốt trước đây và đà tăng trưởng lợi nhuận rất mạnh, tình hình tài chính tốt, tăng trưởng cho vay bán lẻ cao, tiềm năng tăng trưởng phí dịch vụ lớn. Do vậy, VCB đang ngày càng bỏ xa các NHTMCP có vốn nhà nước khác. Theo đó, chúng tôi cho rằng cổ phiếu VCB xứng đáng được định giá cao hơn.

Nguồn: HSC.

Nhà đầu tư muốn mở tài khoản chứng khoán và muốn được tham khảo những mã cổ phiếu tăng giá tốt nhất thị trường chứng khoán hiện tại như danh mục đầu tư cổ phiếu của Thanh Tùng vui lòng liên hệ với mình để được tư vấn chi tiết hơn.

BÌNH LUẬN()

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM

0981 93 8998